DANH MỤC CÂU HỎI

TÌM KIẾM CÂU HỎI

Nội dung
Lĩnh vực

TRANG CHÍNH >> Thi hành án dân sự, >> XEM CHI TIẾT CÂU HỎI

Quy định về trình tự thủ tục thi hành án và nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên

1. Chấp hành viên ra quyết định cưỡng chế thi hành án sau khi người phải thi hành án nhận được thông báo cưỡng chế 11 ngày. Hỏi: Trường hợp này Chấp hành viên ra quyết định cưỡng chế có đúng quy định pháp luật không?
2. Quy định về thời hiệu khiếu nại đối với quyết định và thông báo cưỡng chế của Chấp hành viên?
3. Trường hợp người bị cưỡng chế thi hành án gửi 03 đơn khiếu nại, trong đó có 02 đơn khiếu nại bổ sung sau ngày nhận được quyết định cưỡng chế là 10 ngày thì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có thụ lý giải quyết khiếu nại không?
4. Khi người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại chưa giải quyết khiếu nại của đương sự nhưng Chấp hành viên vẫn tiến hành cưỡng chế có trái với quy định của pháp luật không?
5. Khi Chấp hành viên đến để yêu cầu người phải thi hành án tự nguyện thi hành án, nhưng ranh giới quyền sử dụng đất mà bản án tuyên không có trên thực địa, khi đó người phải thi hành án đề nghị Chấp hành viên căng ranh mà bản án phúc thẩm tuyên để xem ranh này có xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình hay không rồi mới tự nguyện thi hành án, nhưng Chấp hành viên không thực hiện việc căng ranh này. Chấp hành viên thông báo sẽ cưỡng chế thi hành án có đúng quy định pháp luật pháp không? Chấp hành viên khi xác minh điều kiện thi hành án thấy không thấy ranh giới quyền sử dụng đất mà bản án tuyên trên thực địa như quyết định của Tòa án và biết ranh giới này chiếm qua đất của người phải thi hành án được cấp quyến sử dụng đất năm 2004 là 0,73m, đồng thời nhiều cây trồng khác của người phải thi hành án không bị phía bên tranh chấp, tranh chấp, nhưng vẫn ra quyết định cưỡng chế có đúng pháp luật không? Về việc này, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thay đổi Chấp hành viên không?
6. Khi cưỡng chế thi hành án, Hội đồng cưỡng chế thi hành án phá hủy tài sản hợp pháp của người phải thi hành án và cho người được thi hành án làm hàng rào nằm hoàn toàn trong đất của người phải thi hành án đã được cấp QSDĐ năm 2004 (mà phía được thi hành án đã ký tên vào biên bản xác định ranh đất) và không có tranh chấp thì có đúng quy định pháp luật không? Khi cưỡng chế thi hành án, Hội đồng cưỡng chế thi hành án đã đốn bỏ rất nhiều cây trồng mà phía được thi hành án không hề tranh chấp thì có đúng quy định pháp luật không? Trường hợp Chấp hành viên cưỡng chế thi hành án không tuân thủ Luật thi hành án dân sự thì có phải chịu trách nhiệm trước pháp luật không?

Gửi bởi: Trần Bá Tri

Trả lời có tính chất tham khảo

Trường hợp bạn hỏi chúng tôi không có hồ sơ thi hành án không rõ nội dung vụ việc nên chúng tôi trả lời bạn như sau:
1.Về việc ra quyết định cưỡng chế thi hành án:
Khoản 19 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự quy định: “1. Thời hạn tự nguyện thi hành án là 10 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án”.
Hết thời hạn tự nguyện thi hành án theo quy định trên thì Chấp hành viên có quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế. Trường hợp bạn hỏi thì 11 ngày sau khi người phải thi hành án nhận được thông báo cưỡng chế, Chấp hành viên ra quyết định cưỡng chế là đúng quy định pháp luật.
 
2. Quy định về thời hiệu khiếu nại đối với quyết định và thông báo cưỡng chế của Chấp hành viên:
Tại khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 140 Luật Thi hành án dân sự quy định: Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khiếu nại đối với quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên nếu có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Thời hiệu khiếu nại đối với quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp cưỡng chế của Chấp hành viên là 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó.
 
3. Về việc thụ lý đơn khiếu nại hay không:
Trường hợp người phải thi hành án gửi 03 đơn khiếu nại, trong đó có 02 đơn khiếu nại bổ sung sau ngày nhận được quyết định cưỡng chế là 10 ngày là còn thời hiệu khiếu nại theo khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 140 Luật Thi hành án dân sự. Theo quy định tại Điều 148 Luật Thi hành án dân sự thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết và không thuộc trường hợp quy định tại Điều 141 của Luật này, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu phải thụ lý để giải quyết và thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại biết. Trường hợp người có thẩm quyền không thụ lý đơn khiếu nại để giải quyết thì phải thông báo và nêu rõ lý do.
 
4. Về việc cưỡng chế khi chưa giải quyết khiếu nại của đương sự:
Tại Điều 145 Luật Thi hành án dân sự quy định người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có thẩm tạm dừng việc thực hiện quyết định, hành vi bị khiếu nại hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tạm ngừng việc thi hành án trong thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của Luật này, nếu xét thấy việc thi hành án sẽ ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự hoặc ảnh hưởng đến việc giải quyết khiếu nại.
Trường hợp bạn hỏi chúng tôi không rõ việc thi hành án sẽ ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại hoặc ảnh hưởng đến việc giải quyết khiếu nại hay không nên bạn cần liên hệ với cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền giải quyết để được giải quyết theo quy định pháp luật.
 
5. Về việc bản án, quyết định của Tòa án chưa rõ hoặc không phù hợp với thực tế và Chấp hành viên có dấu hiệu không vô tư khi làm nhiệm vụ:
- Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 23 Luật Thi hành án dân sự thì trường hợp Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự xét thấy bản án, quyết định của Tòa án chưa rõ hoặc không phù hợp với thực tế trong bản án, quyết định để thi hành thì có quyền yêu cầu cơ quan đã ra bản án, quyết định giải thích bằng văn bản. Tuy nhiên, thông tin bạn cung cấp cho thấy Chấp hành viên tổ chức thi hành vụ việc xét thấy không có vướng mắc khi xác định mốc giới giao đất. Do đó, theo quy định tại Điều 46 Luật Thi hành án dân sự thì hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 45 của Luật này, người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế. Khoản 1 Điều 45 Luật Thi hành án dân sự quy định: Thời hạn tự nguyện thi hành án là 10 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án. Vì vậy, trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án thì Chấp hành viên tổ chức cưỡng chế là đúng quy định pháp luật.
- Theo quy định tại khoản 5 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền yêu cầu thay đổi Chấp hành viên trong trường hợp có căn cứ cho rằng Chấp hành viên không vô tư khi làm nhiệm vụ. Trường hợp người phải thi hành án cung cấp được các căn cứ chứng minh Chấp hành viên không vô tư khi làm nhiệm vụ thì liên hệ với Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự đang tổ chức thi hành vụ việc để được xem xét, giải quyết.
 
6. Về việc người phải thi hành án không nhất trí với việc kê biên của Chấp hành viên :
- Trường hợp bạn hỏi chúng tôi không có hồ sơ thi hành án, không rõ việc bạn phản ánh trên thực tế như thế nào. Do đó, trường hợp người phải thi hành án không nhất trí với việc kê biên của Chấp hành viên thì bạn có quyền khiếu nại đến Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự đang tổ chức thi hành vụ việc để được xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật.
- Về nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên: Theo quy định tại Điều 20 Luật Thi hành án dân sự thì Chấp hành viên khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án và được pháp luật bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín.
 

 

Trả lời bởi: Nguyễn Thị Thu Hằng