DANH MỤC CÂU HỎI

TÌM KIẾM CÂU HỎI

Nội dung
Lĩnh vực

TRANG CHÍNH >> Hôn nhân gia đình, >> XEM CHI TIẾT CÂU HỎI

Không xác định được nơi cư trú của nguyên đơn

Tôi và chồng tôi kết hôn với nhau và hiện nay có 1 cháu 2 tuổi. Từ khi tôi sinh cháu thì chồng tôi đã đi lại và ăn ở với một người phụ nữ khác. Khi cháu được 8 tháng, chồng tôi đi lại, ăn ở với người đó luôn. Tôi và con về bên ngoại sống và chúng tôi ly thân từ đó. Trong thời gian ly thân, chồng tôi không hề chu cấp hay thăm nom con lần nào. Cũng thời gian đó, tôi phát hiện chồng tôi nghiện ma túy. Tôi đã làm đơn gửi lên Tòa án yêu cầu giải quyết ly hôn. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành xác minh địa chỉ thường trú, tạm trú của chồng tôi nhưng không có thông tin của người đó, do người đó không có địa chỉ rõ ràng, nay đây mai đó. Vì vậy, thẩm phán thông báo sẽ đình chỉ vụ án và trả lại hồ sơ cho tôi. Vậy, tôi muốn hỏi:
1) Như tôi biết thì vẫn có thể xét xử theo hình thức vắng mặt nơi cư trú. Tại sao có thể đình chỉ vụ án khi nguyên đơn vẫn yêu cầu giải quyết?
2) Nếu chồng tôi không quay về, tôi sẽ phải ở như vậy suốt đời? Tôi phải làm thế nào để giải quyết được vụ án?

Gửi bởi: Điêu Xuyến

Trả lời có tính chất tham khảo

1. Về việc đình chỉ vụ án khi nguyên đơn vẫn yêu cầu giải quyết
Thứ nhất, về việc xét xử vắng mặt đương sự
Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS 2015) quy định như sau:
“Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án trong các trường hợp sau đây:
1. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện của họ vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
2. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng có người đại diện tham gia phiên tòa.
3. Các trường hợp quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật này”.
Điểm b, c, d và đ khoản 2 Điều 227 BLTTDS 2015 quy định:
“2. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; nếu vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án có thể hoãn phiên tòa, nếu không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì xử lý như sau:
a) …..
b) Bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ;
c) Bị đơn có yêu cầu phản tố vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu phản tố và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố, trừ trường hợp bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu phản tố đó theo quy định của pháp luật;
d) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó theo quy định của pháp luật;
đ) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ”.
Như vậy, đối chiếu với các quy định trên cho thấy trường hợp của bạn không thuộc trường hợp xét xử vắng mặt đương sự tại phiên tòa theo nội dung Điều 228 BLTTDS 2015.
Thứ hai, về việc đình chỉ vụ án
 Điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015 quy định một trong những trường hợp Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện là:
“Người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phán quy định tại khoản 2 Điều 193 của Bộ luật này.
Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung”.
Liên quan đến nội dung này, tại điểm c khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 BLTTDS số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án quy định như sau:
“2. Trường hợp sau khi thụ lý vụ án, Tòa án không tống đạt được thông báo về việc thụ lý vụ án do bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không còn cư trú, làm việc hoặc không có trụ sở tại địa chỉ mà nguyên đơn cung cấp thì Tòa án giải quyết như sau:
a) ….
b) ….
c) Trường hợp không thuộc điểm a, b khoản 2 Điều này mà Tòa án đã yêu cầu nguyên đơn cung cấp địa chỉ mới của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng nguyên đơn không cung cấp được thì có quyền yêu cầu Tòa án thu thập, xác minh địa chỉ mới của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật. Trường hợp Tòa án không xác định được địa chỉ mới của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, trừ trường hợp hướng dẫn tại khoản 3 Điều này.”
Như vậy, căn cứ vào các quy định trên và đối chiếu với trường hợp của bạn thì việc Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án khi không xác định được địa chỉ mới của bị đơn là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.
2. Việc Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án khi không xác định được địa chỉ của chồng bạn không có nghĩa là nếu chồng bạn không quay về, bạn sẽ phải ở như vậy suốt đời.
Sau khi đình chỉ giải quyết vụ án, có 02 trường hợp xảy ra:
 Trường hợp 01: Nếu chồng bạn quay về hoặc nếu bạn có thể cung cấp được đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc của chồng bạn thì bạn có thể khởi kiện lại vụ án. Khi đó, tòa án sẽ thụ lý và giải quyết theo thủ tục chung. Tại khoản 4 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP quy định: “Trường hợp vụ án bị đình chỉ giải quyết theo hướng dẫn tại điểm c khoản 2 Điều này thì theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, người khởi kiện có quyền khởi kiện lại vụ án đó khi cung cấp được đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”.
Trường hợp 02: Trong trường hợp ngược lại, nếu chồng bạn biệt tích 06 tháng liền trở lên thì bạn có thể yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự (Điều 64 Bộ luật dân sự 2015).
Khi chồng bạn biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì bạn có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố người đó mất tích theo Điều 68 Bộ luật dân sự 2015. Sau khi có Quyết định của Tòa án tuyên bố chồng bạn mất tích, nếu bạn xin ly hôn thì Tòa án sẽ giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.
Căn cứ vào các nội dung phân tích trên, bạn có thể lựa chọn các phương án để giải quyết phù hợp với mong muốn và điều kiện thực tế của mình.
 

 

Trả lời bởi: Đặng Thị Lưu - Cục QLXLVPHC&TDTHPL