DANH MỤC CÂU HỎI

TÌM KIẾM CÂU HỎI

Nội dung
Lĩnh vực

TRANG CHÍNH >> Thi hành án dân sự, >> XEM CHI TIẾT CÂU HỎI

Quy định về ủy thác thi hành án và lưu trữ hồ sơ ủy thác thi hành án

Chi cục Thi hành án dân sự huyện A sau khi nhận bản án của Tòa án đã ra quyết định thi hành án và xử lý tài sản Tòa án tuyên tịch thu, tiêu hủy. Chấp hành viên xác minh thấy người phải thi hành án không có tài sản thi hành án ở huyện A; người phải thi hành án có địa chỉ tại huyện B. Chi cục THADS huyện A đã thực hiện   ủy thác cho Chi cục THADS huyện B. Hồ sơ ủy thác được gửi bảo đảm. Sau khi ủy thác, Chấp hành viên phân loại hồ sơ này là hồ sơ xong. Tuy nhiên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A cho rằng hồ sơ này chưa xong do chưa nhận được Thông báo nhận ủy thác của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B.
Hỏi: Khi nào hồ sơ ủy thác được coi là hồ sơ xong để đưa vào lưu trữ?

Gửi bởi: Nguyễn Việt Đại

Trả lời có tính chất tham khảo

Trường hợp bạn hỏi chúng tôi trả lời như sau:
- Khoản 2 Điều 57 Luật thi hành án dân sự quy định: Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án và thông báo bằng văn bản cho cơ quan thi hành án dân sự đã ủy thác về việc nhận được quyết định ủy thác.
- Điều 30 Thông tư 01/2016/TT-BTP quy định về lập hồ sơ thi hành án như sau: Chấp hành viên lập hồ sơ thi hành án theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ. Hồ sơ thi hành án, gồm: bản án, quyết định; các biên bản bàn giao, xử lý vật chứng, tài sản đã kê biên, tạm giữ; biên bản xác minh, biên bản giải quyết việc thi hành án; giấy báo; giấy triệu tập; giấy mời; các đơn yêu cầu, khiếu nại về thi hành án; các biên lai, phiếu thu, phiếu chi; các tài liệu liên quan đến việc xử lý tài sản để thi hành án; các công văn, giấy tờ của cơ quan thi hành án dân sự, tổ chức, cá nhân liên quan đến việc thi hành án, như: công văn xin ý kiến chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ thi hành án; công văn trao đổi với cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan trong quá trình thi hành án; công văn yêu cầu chuyển tiền, tang vật còn thiếu hoặc chưa chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự; các giấy tờ, tài liệu liên quan khác (nếu có).
- Tại khoản 2 Điều 8 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định: Hồ sơ thi hành án phải thể hiện toàn bộ quá trình tổ chức thi hành án của Chấp hành viên đối với việc thi hành án, lưu giữ tất cả các tài liệu đã, đang thực hiện và được lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ.
- Theo khoản 2 Điều 31 Thông tư 01/2016/TT-BTP ngày 01 tháng 02 năm 2016 hướng dẫn thực hiện một số thủ tục về quản lý hành chính và biểu mẫu nghiệp vụ trong thi hành án dân sự quy định: "Sau khi kết thúc việc thi hành án, Chấp hành viên được phân công tổ chức thi hành vụ việc phải kiểm tra các tài liệu có trong hồ sơ; ký, ghi rõ họ tên vào phía dưới, góc phải của bảng thống kê và chuyển cho Thẩm tra viên kiểm tra, ký xác nhận vào phía dưới, góc trái của bảng thống kê, báo cáo Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phê duyệt đưa vào lưu trữ".
Như vậy, theo những quy định trên thì hồ sơ ủy thác được xếp vào mục hồ sơ ủy thác và đưa vào lưu trữ theo quy định khi cơ quan Thi hành án ủy thác nhận được văn bản của cơ quan nhận ủy thác thông báo về việc nhận được quyết định ủy thác. Nếu thiếu văn bản này thì hồ sơ không thể hiện đầy đủ kết quả thi hành án của cơ quan Thi hành án dân sự theo Điều 30 Thông tư 01/2016/TT-BTP.
 

 

Trả lời bởi: Nguyễn Thị Thu Hằng