Đăng ký Biện pháp bảo đảm theo Khoản 1 Điều 23 Nghị định 102/2017

Năm 2018, tôi và ngân hàng có ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1 năm để bảo đảm cho khoản vay A, Hợp đồng đã được công chứng và được đăng ký thế chấp tại Văn phòng Đăng ký đất đai theo đúng quy định của pháp luật. Trong Hợp đồng thế chấp  không có nội dung thỏa thuận về việc đảm bảo cho các nghĩa vụ phát sinh trong tương lai)
Đến năm 2019, tôi và ngân hàng cùng ký tiếp Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2 (cũng cùng tài sản thế chấp với Hợp đồng thế chấp số 1) để bảo đảm cho khoản vay B (khoản vay A vẫn còn), Hợp đồng này cũng được công chứng tại và thực hiện đăng ký thế chấp theo quy định tại khoản01 Điều 23 Nghị định 102/2017. Văn phòng ĐKĐĐ từ chối đăng ký với lý do Hợp đồng ban đầu không có điều khoản nghĩa vụ phát sinh trong tương lai, do đó các bên cần  ký kết Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp hoặc lập Phụ lục Hợp đồng thế chấp để bổ sung nghĩa vụ bảo đảm và thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi nội dung đã đăng ký theo quy định tại khoản 6 Điều 18 Nghị định số 102/2017/NĐ-CP.
Xin hỏi, việc từ chối như vậy có đúng với tinh thần của Nghị định 102/2017 hay không?

Người gửi: Cao Duy Linh

Về câu hỏi của anh/chị, tôi xin được trả lời như sau:
1. Theo quy định của khoản 1 Điều 23  Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm (sau đây gọi là Nghị định số 102/2017/NĐ-CP): Trường hợp bổ sung nghĩa vụ được bảo đảm mà các bên ký kết hợp đồng bảo đảm mới, có hiệu lực độc lập với hợp đồng bảo đảm đã đăng ký trước đó, thì người yêu cầu đăng ký thực hiện đăng ký biện pháp bảo đảm mới và không phải xóa đăng ký biện pháp bảo đảm trước đó”.
3. Theo quy định của khoản 1 Điều 7 Nghị định số 102/2017/NĐ-CP thì: Cơ quan đăng ký không được yêu cầu nộp thêm bất cứ giấy tờ gì mà pháp luật không quy định trong hồ sơ; không được yêu cầu các bên ký kết hợp đồng sửa lại tên hợp đồng bảo đảm, nội dung hp đng bảo đảm, nếu không thuộc trường hợp sai sót do lỗi kê khai của người yêu cầu đăng ký”.
Căn cứ vào các quy định nêu trên cho thấy, trường hợp các bên ký kết hợp đồng bảo đảm mới (Hợp đồng thế chấp số 2), có cùng tài sản thế chấp với Hợp đồng thế chấp số 1 để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ mới (khoản vay B), có hiệu lực độc lập với Hợp đồng thế chấp số 1 thì các bên thực hiện đăng ký thế chấp mới (đăng ký thế chấp lần đầu) đối với Hợp đồng thế chấp số 2.
Quy định tại khoản 6 Điều 18 của Nghị định số 102/2017/NĐ-CP về trường hợp Bổ sung nghĩa vụ được bảo đảm mà trong hợp đồng bảo đảm ban đầu các bên không có thỏa thuận về việc cầm cố, thế chấp tài sản để bảo đảm cho các nghĩa vụ phát sinh trong tương lai được áp dụng trong trường hợp các bên lập Phụ lục hợp đồng bảo đảm hoặc Văn bản thỏa thuận sửa đổi, bổ sung nội dung hợp đồng bảo đảm ban đầu để bổ sung nghĩa vụ được bảo đảm và trong hợp đồng bảo đảm ban đầu các bên không có thỏa thuận về việc thế chấp tài sản để bảo đảm cho các nghĩa vụ phát sinh trong tương lai.
Do đó, đối với trường hợp Anh/chị hỏi, nếu không thuộc trường hợp từ chối đăng ký quy định tại khoản 1 Điều 15 Nghị định số 102/2017/NĐ-CP thì Văn phòng đăng ký đất đai tiếp nhận và giải quyết hồ sơ đăng ký thế chấp (đăng ký thế chấp lần đầu) đối với Hợp đồng thế chấp số 2 theo quy định của Nghị định này và Thông tư số 07/2019/TT-BTP ngày  25 tháng 11 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn một số nội dung về đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất.

Lượt xem: 75